Danh Mục Chính

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 401

Máy chủ tìm kiếm : 6

Khách viếng thăm : 395


Hôm nayHôm nay : 92763

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 695745

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 45521403

Liên Kết

Báo Dân Trí
Bộ Giáo Dục - Đào Tạo
Mạng Giáo Dục Edu Net
Học Mãi
Hội Khuyến Học Việt Nam
Sở Giáo Dục & Đào Tạo Hà Nội

Trang nhất » Tin Tức » Tin Tức

TỪ “BÌNH DÂN HỌC VỤ” TỚI “BÌNH DÂN HỌC VỤ SỐ”: BỒI ĐẮP NĂNG LỰC NỘI SINH TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

Thứ bảy - 15/08/2026 19:26
Phong trào “Bình dân học vụ” ra đời từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ là cuộc chiến với “giặc dốt”, mà còn là một cuộc cách mạng văn hóa quần chúng, hướng đến nâng cao dân trí, tiếp thu tư tưởng tiến bộ, từ đó hình thành lòng tự tôn dân tộc sâu sắc, góp phần bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Hướng dẫn người dân sử dụng thiết bị công nghệ,
mạng máy tính làm thủ tục hành chính tại xã Sóc Sơn
     Tinh thần phong trào “Bình dân học vụ" đang được tiếp nối trong “Bình dân học vụ số” - phổ cập năng lực số, để mỗi người dân không ngừng học hỏi, lao động sáng tạo và làm chủ không gian số. Đây cũng là một cách cụ thể hóa tinh thần đột phá của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đưa chuyển đổi số từ câu chuyện của công nghệ trở thành năng lực của mỗi người và nguồn lực của toàn xã hội.
     Trang bị tri thức, góp sức xây dựng nước nhà
     Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra trang mới trong lịch sử dân tộc - đất nước được độc lập, nhân dân được làm chủ. Nhưng thời điểm ấy, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, nổi lên ba thách thức lớn là “giặc đói”, “giặc dốt” và giặc ngoại xâm. Về “giặc dốt”, chính sách ngu dân của thực dân Pháp, với việc “hạn chế mở trường học, không muốn cho dân ta biết chữ”, đã khiến hơn 90% dân số mù chữ.
     Ngày 3/9/1945, chỉ một ngày sau lễ Tuyên ngôn Độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định chống nạn mù chữ là một trong những nhiệm vụ cấp bách của quốc gia. Ngày 8/9/1945, Chính phủ ban hành 3 sắc lệnh về giáo dục, trong đó có Sắc lệnh số 17-SL thành lập Nha Bình dân học vụ. Phong trào nhanh chóng lan rộng trên cả nước, xác định tính chất của nền giáo dục với “3 nguyên tắc: Khoa học hóa, đại chúng hóa, dân tộc hóa”. “Bình dân học vụ” trở thành một phong trào quần chúng rộng rãi.
     Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra cách học đơn giản nhưng hiệu quả: “Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ (...). Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi (...)”. Thực hiện phương châm đó, chỉ trong vòng 1 năm, từ ngày 08/9/1945 đến ngày 08/9/1946, đã có 9,5 vạn người xung phong làm giáo viên “Bình dân học vụ”. Tính đến tháng 9/1946, cả nước có hơn 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ.
     Theo TS.Lê Thị Thu Phượng - Giảng viên Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tư tưởng xóa nạn mù chữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945 đến nay vẫn giữ nguyên giá trị cốt lõi, nhưng được chuyển hóa, nâng tầm thành phong trào “Bình dân học vụ số”, hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Quá trình đó diễn ra trên quy mô quốc gia, từ chính phủ số, kinh tế số, xã hội số đến công dân số.
     Thạc sĩ Nguyễn Đức Anh, Founder Học viện STEAM - STEAM Academy, đơn vị tham gia triển khai các chương trình đào tạo “Bình dân học vụ số” tại các trường học, địa phương, cũng chia sẻ: Sau hơn một năm chính thức phát động theo Kế hoạch số 01-KH/BCĐTW ngày 21/3/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phong trào “Bình dân học vụ số” đã tạo nên làn sóng phổ cập công nghệ quy mô toàn quốc tới nhiều nhóm đối tượng: Nông dân, tiểu thương, người cao tuổi, người lao động, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số.
     Thực vậy, theo báo cáo của Tổ công tác Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, sau hơn một năm triển khai, tổ chức thực hiện, nền tảng “Bình dân học vụ số” do Bộ Công an chủ trì, ra mắt ngày 26/3/2025, được thiết kế đáp ứng 40.000 người truy cập đồng thời. Tại lễ ra mắt, nền tảng đã đào tạo được 200.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Đến cuối tháng 3/2026, nền tảng đã có 87 khóa học, ghi nhận được 1.443.384 lượt học viên.
     Cùng với đó, các nền tảng đào tạo trực tuyến mở đại trà được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt là MobiEdu và One Touch cũng đã đào tạo được hơn 1,2 triệu lượt cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tham gia, đồng thời phổ cập kỹ năng số miễn phí cho hơn 40 triệu lượt người (tính đến tháng 3/2025). Mạng lưới đoàn viên, thanh niên cũng được phát huy với 13.124 đội hình “Bình dân học vụ số”, huy động được 441.617 đoàn viên hỗ trợ cho gần 2,5 triệu người dân tính đến tháng 7/2026.
     Các mô hình đều hướng tới nhu cầu thực tế. Đơn cử “Chợ số - Nông thôn số” gắn kỹ năng số với thương mại điện tử, thanh toán không tiền mặt; các lớp “cầm tay chỉ việc” hướng dẫn người cao tuổi sử dụng dịch vụ công, thanh toán số, bảo đảm an toàn trên mạng; tổ công nghệ số cộng đồng trực tiếp đến từng hộ dân; trong khi đào tạo tại doanh nghiệp, hợp tác xã tập trung vào kỹ năng số gắn với năng suất lao động. Sự đa dạng về đối tượng và cách thức triển khai cho thấy tinh thần “không ai bị bỏ lại phía sau” trong chủ trương quan trọng này.
     Để không “tụt hậu văn hóa” trong thời đại mới
     Có thể nói, tinh thần “Bình dân học vụ số” đang đi vào đời sống qua những việc rất cụ thể ở cơ sở. Tại phường Tây Hồ, Hà Nội, chuyển đổi số được gắn với kinh tế, đời sống qua nhiều mục tiêu: Triển khai tại 35 tổ dân phố, hỗ trợ ít nhất 15 sản phẩm OCOP lên sàn thương mại điện tử, tổ chức livestream quảng bá sản phẩm và duy trì thanh toán không dùng tiền mặt tại 100% chợ dân sinh. Phó Chủ tịch UBND phường Tây Hồ Nguyễn Việt Cường nhấn mạnh, hiệu quả chuyển đổi số không được đo bằng số lượng phần mềm hay tài khoản được kích hoạt, mà bằng “mức độ hài lòng của người dân, chất lượng phục vụ của bộ máy hành chính và năng lực phát triển của địa phương”.
     Tại xã Vĩnh Thanh, Hà Nội, công nghệ giúp chính quyền và nhân dân đến gần nhau hơn qua ứng dụng “Vĩnh Thanh Số” và mô hình “thôn số”. Các tổ chuyển đổi số cộng đồng hướng dẫn người dân sử dụng VNeID, iHanoi, dịch vụ công trực tuyến; xã đồng thời đặt mục tiêu hỗ trợ ít nhất 30% hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số.
     “Bình dân học vụ số” đang chuyển từ việc học để biết sử dụng công nghệ sang học để làm được việc, tạo ra giá trị và tham gia chủ động hơn vào đời sống số. Công nghệ cũng mở ra nhiều phương thức để phát triển kinh tế - xã hội, kết nối cộng đồng và đưa giá trị văn hóa đến với đông đảo công chúng hơn. Nhưng để những cơ hội ấy trở thành giá trị thực, điều quyết định vẫn là năng lực của con người, đặc biệt trong bối cảnh không ít những khó khăn, thách thức, thậm chí mặt trái của công nghệ luôn tiềm ẩn.
     TS.Đỗ Ngọc Minh, Giám đốc Chương trình Tài nguyên Giáo dục Mở Việt Nam (VOER), đồng sáng lập Khan Academy Vietnam, chia sẻ, nguy cơ thiếu hụt kỹ năng công nghệ, “không theo kịp cuộc chơi” là có thật, nhưng đáng lo hơn là con người có thể bị cuốn vào một môi trường thông tin ngày càng tràn lan và dễ bị thao túng. Cụ thể, con người dễ rơi vào trạng thái tiếp nhận thông tin nhanh nhưng hời hợt, chia sẻ nhiều nhưng ít kiểm chứng, tiếp xúc với văn hóa nhiều hơn nhưng chưa chắc hiểu sâu hơn. Đây chính là nguy cơ “tụt hậu văn hóa” ngay giữa thời đại thông tin dư thừa.
     Bởi vậy, để phong trào “Bình dân học vụ số” đem lại hiệu quả, TS.Đỗ Ngọc Minh khuyến nghị, người dân cần được trang bị kỹ năng theo nhiều cấp độ: Tiếp nhận, hấp thụ thông tin; xử lý, phân biệt đúng sai; nói ra, lan tỏa điều đúng đắn và giúp người khác làm được điều đúng đắn. Đó là một lộ trình, trong đó mục tiêu luôn hướng về hai chữ “bình dân”, để “chạm” được tới tất cả mọi người. Quá trình ấy cũng cần được đặt trong tinh thần học tập suốt đời mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh.
     Ở góc độ chính sách, TS.Lê Thị Thu Phượng cho rằng cần hoàn thiện quy định về AI, dữ liệu cá nhân, bản quyền và trách nhiệm của các nền tảng; xây dựng hệ thống dữ liệu số về lịch sử, văn hóa Việt Nam có nguồn gốc rõ ràng và được kiểm chứng. Bên cạnh đó, “bộ lọc văn hóa” bền vững nhất chính là năng lực hiểu, lựa chọn và chịu trách nhiệm của mỗi người trên không gian số.
     Theo báo cáo Digital 2026, đến cuối năm 2025, Việt Nam có khoảng 85,6 triệu người dùng internet, tương đương với 84,2% dân số của cả nước; số định danh người dùng mạng xã hội đạt khoảng 79 triệu. Những con số này cho thấy không gian số đã trở thành một phần quan trọng của đời sống xã hội. Một lần nữa, “Bình dân học vụ số” vừa là cơ hội, vừa là thách thức để mỗi người dân đều được tiếp cận về công nghệ, học tập suốt đời và góp phần thiết thực vào bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian số.
Nguồn tin: Khánh Thư - Thảo Hương 

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá về website này như thế nào?

Đẹp và dễ sử dụng

Đẹp nhưng khó sử dụng

Bình thường

Không đẹp

Giới thiệu

Tổ chức Hội Khuyến học Việt Nam

  1. Tôn chỉ, mục đích Hội Khuyến học Việt Nam là tổ chức xã hội của mọi công dân và tổ chức Việt Nam tâm huyết với sự nghiệp "trồng người góp sức phấn đấu cho phong trào " toàn dân học tập, toàn dân tham gia làm giáo dục", "cả nước trở thành một xã hội học tập" nhằm nâng cao dân trí, đào tạo...

trung tam dạy tốt Luyện thi đại học